Sinh tồn hay tử vong
của dân tộc Tây Tạng
Bài
của Trần duy Kiện
Dịch
từ “Boxun”
Lính Trung Quốc đi tuần trên một
đường phố ở tỉnh Kangding, thủ đô
của Khu vực Tây Tạng Tự Trị ở Ganzi,
thuộc miền tây nam tỉnh Sichuan của Trung Quốc
(The Eng Koon/ AFP/Getty Images)
Những cuộc tranh đấu phản kháng ở Tây Tạng và sự đàn áp đẫm máu của chế độ Cộng Sản lại một lần nữa mang sự sinh tồn hay tử vong của dân tộc Tây Tạng đến trước mặt những người trên thế giới.
Cuộc thảm sát xảy ra lần này không phải là chuyện ngẫu nhiên. Nó có nguyên nhân lịch sử và những yếu tố hiện thực trong đó.
Nguyên nhân lịch sử là cuộc khởi
nghĩa của Tây Tạng để chống bạo quyền
thống trị của Trung Cộng vào tháng Ba năm 1959.
Ngày 21 tháng 10 năm 1951 quân đội Trung Cộng
tuyên bố giải phóng Tây Tạng. Tuy nhiên vào ngày 21 tháng 3 năm 1959, người Tây Tạng
rốt cuộc đã nhận rõ rằng Trung Cộng tiến
vào Tây Tạng lần này là hoàn toàn khác hẳn với những
lần người Trung Quốc đi vào Tây Tạng trước
kia.
Bọn họ không vỏn vẹn chỉ muốn
cai trị Tây Tạng trên danh nghĩa thôi, mà còn muốn cai trị
Tây Tạng thực sự, tức là cải tạo Tây Tạng
theo đường lối của chủ nghĩa Cộng
Sản với máu tanh và bạo lực. Bất cứ ai bất
mãn hoặc kháng cự sẽ bị giết chết. Vì vậy, khắp nơi đều
nổi lên những cuộc khởi nghĩa chống lại
Cộng Sản Trung Quốc.
Khi dân chúng Tây Tạng biết Trung Cộng mời
đức Đạt-Lai Lạt Ma một mình tới doanh
trại của binh sĩ Trung Cộng để xem hát, họ
sợ đức Đạt-Lai lạt Ma có thể sẽ bị
bắt cóc. Vì vậy họ tự tổ chức vây quanh điện
Norbu Lingka ( chỗ ở mùa hè của Đạt-Lai lạt-ma)
để ngăn ngừa Trung Cộng không được đem
ngài đi. Sau đó, đức Đạt-Lai Lạt-ma
đã phải bỏ chỗ ở, vì đại bác của
Trung Cộng đang nhắm vào Norbu Lingka.
Chẳng bao lâu sau đó, Trung Cộng đã
hoàn toàn bộc lộ sự giả vờ “giải phóng Tây
Tạng một cách ôn hòa và cho phép Tây Tạng tự trị”. Nó bắt đầu một cuộc
đàn áp và thảm sát chưa từng thấy trong lịch
sử của Tây Tạng mà đã giết gần một triệu
người dân Tây Tạng.
Sau cuộc thảm sát, chính quyền Tây Tạng
lưu vong do đức Đạt-Lai Lạt ma hướng
dẫn, đã được thành lập tại thành phố
Dharamsala, xứ Ấn Độ. Đức Đạt-Lai lạt ma đã bắt đầu
một cuộc cải cách dân chủ cho chính quyền lưu
vong, gồm có các vị sư tăng và các nhà quý tộc, để
thành lập một “Uỷ Viên Hội” đại biểu dân
chúng. Từ 3 khu vực của
Tây Tạng chọn ra 3 đại biểu và bốn đại
giáo phái chọn ra một đại biểu. Ngày 2 tháng 9 năm 1960, tại
Dharamsala đã tiến hành Nhân Dân Nghị Hội đầu
tiên trong lịch sử của Tây Tạng để thành lập
các Uỷ Viên đại biểu nhân dân. Vào năm 2001, mỗi người
dân Tây Tạng bắt đầu thực hành việc đầu
phiếu để trực tiếp bầu cử Thủ Tướng
theo hệ thống dân chủ.
Trong khi đó chính phủ lưu vong Tây Tạng
cũng xây chùa, tạo dựng Phật học viện, mở
trường dạy ngôn ngữ Tây Tạng và một bệnh
viện Tây Tạng để bảo tồn văn hóa và tôn
giáo của Tây Tạng.
Tây
Tạng dưới sự thống trị của Trung
Cộng
Sau khi Cộng
Sản Trung Quốc thống trị Tây Tạng, chúng hầu
như đã phá hủy văn hóa Tây Tạng, cùng với hệ
thống bao gồm chính trị và tôn giáo của họ, và nền
kinh tế trang viên của Tây Tạng dưới danh nghiã cải
tạo theo chủ nghĩa xã hội. Cộng Sản Trung Quốc đã thành lập một
“khu vực Tây Tạng tự trị” dưới sự thống
trị tuyệt đối của Đảng Cộng Sản
và một nền kinh tế theo phương thức nhân dân
công xã. Khi Cách Mạng Văn Hóa
của TQ sắp kết thúc, Tây Tạng chỉ còn là một
cảnh hoang tàn. Tôn giáo và văn hóa Tây Tạng được
khôi phục lại chút đỉnh sau Cách Mạng Văn Hóa,
nhưng dưới sự cai trị chặt chẽ của
Cộng Sản Trung Quốc, cái gọi là “thành lập một tân Tây Tạng” chỉ
có mục đích để biến đổi Tây Tạng
hoàn toàn.
Tiêu
hủy phần tinh thần
Vấn đề đau thương nhất
của người Tây Tạng là sự tiêu hủy tín ngưỡng
của họ. Thống kê ghi
nhận Tây Tạng trước năm 1959 có 2.711 ngôi chùa và
114.103 tăng sĩ và ni cô. Sáu
năm sau, chỉ còn lại 553 ngôi chùa và 6.913 tăng sĩ
và ni cô tồn tại. Sau đại
nạn bởi Cách Mạng Văn Hóa, chỉ có hơn 80 ngôi
chùa và khoảng 7.000 tăng nhân còn lại.
Trong khi Cộng Sản Trung Quốc đang
phá hủy đền thờ
và các ngôi chùa, chúng cũng thực hành sự tiêu hủy cả
tinh thần lẫn thể xác của các vị sư tăng
và ni cô. Chúng cưỡng ép họ
phải tham gia học tập chính trị, phải phản
bội và điềm chỉ từng người một, lăng
mạ đức Đạt-Lai lạt ma, và ngay cả bắt
ép sư tăng và ni cô phải ngủ chung với nhau. Tăng nhân nào bất mãn, phản
đối đều bị bỏ vào tù. Số sư tăng bị tống
giam hoặc bị giết chết nhiều vô số kể. Đối với các vị sư tin vào luân hồi,
khi Trung Cộng phá hủy tinh thần của họ thì sự
chịu đựng còn khó hơn cả bất cứ sự hủy họai nào về thể
xác.
Tác giả cuốn sách “ Ngọn lửa
dưới tuyết sơn”, Paden Gyatso, nói rằng “cái mà
tôi chịu đựng khổ sở nhất trong suốt
33 năm tù không phải là bị đói, bị xiềng xích,
bị đánh đập tàn nhẫn, hay bị điện
giựt, mà là sự tra tấn để phản bội và điềm
chỉ người ta. Bọn Cộng Sản muốn chúng
tôi chứng tỏ lòng trung thành với bọn nó, nên nó đòi
hỏi mọi người phải tố cáo người
khác. Nó ép người ta phải
đấu tố hoặc báo cáo giả dối về bạn
bè của chúng tôi. Tôi sợ nhất
là những buổi đấu tố. Nếu tôi nói láo, tôi sẽ hại người khác;
nếu tôi không nói láo, tôi sẽ tự hại mình. Hễ người ta bắt đầu
hãm hại một người, họ sẽ tiếp tục
làm hại cả trăm người khác. Dù rằng bị đánh đập
là rất đau đớn, nhưng vết thương có
thể lành lại, nhưng một khi con người đánh
mất phần tinh thần, họ sẽ mất nó vĩnh
viễn.”
Dĩ nhiên, đối với các sư tăng và ni cô, điều khó chấp nhận nhất là Cộng Sản Trung Quốc cưỡng ép họ phải xúc phạm và lăng mạ hình ảnh đức Đạt-Lai lạt ma, một vị mà dân Tây Tạng tôn kính như là Phật sống. Đặc biệt là các sư tăng, đối với họ, nếu không tôn kính đức Đạt-Lai lạt ma thì đã là một tội lỗi lớn nhất, huống chi còn nói đến chuyện xúc phạm Ngài.
Phỉ báng đức Đạt-Lai lạt
ma có nghĩa là họ sẽ phải xuống địa ngục.
Vì vậy, ngoại trừ một số rất nhỏ, các
sư tăng vẫn không làm theo những đòi hỏi của
bọn Trung Cộng, dù rằng họ được hứa
hẹn đủ loại quyền lợi bởi vì họ
tin vào luật nhân-quả.
Ở Tây Tạng, một vị sư chân chính
sẽ bị Cộng Sản Trung Quốc xếp loại như
một tội nhân chính trị, và sẽ bị đuổi
ra khỏi chùa hoặc tống vào ngục giam. Cho nên, những
vị sư Tây Tạng nào còn ở lại trong chùa thì làm ngược
với lương tri của họ hoặc đau khổ
chịu đựng sự đánh mất lương tri của
mình và phạm vào tội ác. Những
sư tăng này cuối cùng cũng tự tử như những
người trong các cuộc phản kháng gần đây.
Hiện
đại hóa theo kiểu Trung Cộng
Dưới chính sách kiến thiết tân Tây Tạng
của Trung Cộng, chính quyền trung ương TQ trực
tiếp đầu tư 50.441 tỷ đồng yuan ( bằng
khoảng 7 tỷ đô-la) vào Tây Tạng từ năm 1994 đến
năm 2004. Phó Bộ-trưởng
bộ Lao Động Thống Nhất Chiến Tuyến,
Chu Duy Quân cho biết, trong “Kế
hoạch Phát Triển Quốc Gia lần thứ 15” tiền
Trung Ương đầu tư vào kế hoạch này cùng với
tiền viện trợ của các nơi trên toàn quốc cho
Tây Tạng đã lên hơn 72.2 tỷ đồng yuan ( bằng
khoảng 10.5 tỷ đồng đôla).
Sau hội nghị Công Tác Tây Tạng lần thứ ba, có 62 chương
trình quốc qia và 716 hạng mục cho Tây Tạng. Tuy nhiên,
hầu hết những chương trình này là những thứ
dân chúng Tây Tạng không cần. Ví dụ như, tỉnh Hồ Nam viện trợ một
tượng Mao trạch Đông cao 12 mét. Điều này không phải là giúp
cho Tây Tạng, mà đúng ra là một sự sỉ nhục rất
lớn đối với dân tộc Tây Tạng.
Một trường hợp khác là, một
trong 10 công trình kiến thiết lớn ở Tây Tạng là
một vận động trường, nhưng dân Tây Tạng
không sử dụng nó. Hãy còn một số chương trình
phát triển, tỷ dụ như những sân chơi golf, mà
không có một chút quan hệ gì với người dân Tây Tạng. Những toà nhà cao lớn kiểu
Tây Phương này không ăn nhập gì với văn hóa
truyền thống của Tây Tạng. Chúng đã thay đổi cách kiến trúc nguyên thủy
của Tây Tạng.
Hiện nay, thủ đô của Tây Tạng,
Lhasa, là một thành phố khá
giống như những thành phố khác ở Trung Quốc. Có rất nhiều tòa nhà tân thời. Trên đường phố của
Lhasa, khó mà chụp được một bức ảnh chỉ
giới hạn trong những tòa nhà xây theo kiểu Tây Tạng
mà thôi.
Trong lúc xây dựng những tòa nhà tân thời
ở Tây Tạng, Trung Cộng đã cho rất nhiều người
Hán di dân đến Tây Tạng dưới danh nghĩa phát
triển vùng này, và đã làm thay đổi tỉ số dân
tộc thiểu số Tây Tạng. Theo sự ước đoán của chính phủ lưu
vong Tây Tạng, khoảng chừng 7 triệu rưỡi người
Hán di dân đã đến ở Tây Tạng, chưa kể cảnh
sát và quân đội trấn đóng tại nơi đây. Vì vậy, hiện nay, dân số
người Hán đã vượt qua hẳn dân số người
Tây Tạng.
Hơn nữa sự gia tăng dân số Tây Tạng vẫn là vấn đề chính của nòi giống Tây Tạng. Phần lớn dân Tây Tạng là sư tăng và ni cô, do đó dân số Tây Tạng không thể phát triển. Dưới hoàn cảnh văn hóa đặc biệt như vậy, chính sách một con để ngừa sinh đẻ của Trung Cộng không nên áp dụng tại Tây Tạng.
Mặc dù luật pháp Trung Cộng cho phép họ
được sinh 2 con, nhưng trên thực tế, nó vẫn
triệt để áp dụng chính sách một con ở Tây Tạng
như là ở trong Trung Quốc. Với sự phát triển
kinh tế, càng ngày càng nhiều người Hán đi vào Tây
Tạng để kiếm ăn. Theo thống kê của chính
quyền trong khu Tây Tạng Tự Trị, mỗi năm có
khoảng chừng 50 ngàn người Hán di dân đến sống
ở Tây Tạng.
Sau khi đường rầy xe lửa Thanh Hải-Tây Tạng được
thành lập, có thêm nhiều người Hán dọn đến
Tây Tạng để mưu sinh. Cũng có rất nhiều du khách. Theo phỏng đoán
của ngành Du Lịch, mỗi năm có khoảng chừng 2
triệu rưỡi người đến thăm viếng
Tây Tạng sau khi đường xe lửa nối Thanh Hải và Tây Tạng được
khai thông. Số du khách lên gần tương đương
với dân số Tây Tạng.
Đồng
hóa với văn hoá của đảng Cộng Sản
Từ khi Trung Cộng thống trị Tây Tạng,
mặc dù song ngữ Hán-Tạng được dạy ở
các trường học lúc ban đầu (tiếng Tây Tạng
đã bị ngừng dậy tại trường trong thời
kỳ Cách Mạng Văn Hoá TQ), nhưng kể từ năm
1997, dưới danh nghiã nâng cao công việc làm và đời
sống tương lai của người dân Tây Tạng,
tiếng Hán đã được dùng làm ngôn ngữ chính để
giảng dạy trong các trường. Phần còn lại
trong chương trình dạy tiếng Tây Tạng chủ yếu
là giảng dạy về văn hoá Trung Hoa và những thứ
liên hệ với văn hoá của đảng Cộng Sản,
ví dụ như sự đóng góp của công chúa Wencheng cho Tây
Tạng (là một công chúa Trung Hoa , vợ của Gongtsen
Gampo ở Tây Tạng vào năm 635), hoặc là lý thuyết
“tam đại biểu” của Giang Trạch Dân, và những
vấn đề tương tự .
Hán ngữ được dùng để giảng
dạy tại các lớp cao cấp bởi vì ngôn ngữ Tây
Tạng tự nó không dùng để diễn tả những
danh từ kỹ thuật hiện đại. Trong phạm
vi thông tin bằng truyền hình, radio, báo chí, tạp chí và những
thứ khác, tiếng Trung Hoa cũng được dùng làm
ngôn ngữ chính trong khi tiếng Tây Tạng chỉ là thứ
phụ. Tạng ngữ chỉ
bắt đầu được dùng trong các chương
trình truyền hình kể từ năm 1999, và bị giới
hạn chỉ được phát ra trong vòng 12 giờ đồng
hồ mỗi ngày.
Nói tóm lại, trong đời sống thực
sự người dân Tây Tạng không thể tìm được
việc làm nếu không biết tiếng Trung Hoa. Tất cả
các sự buôn bán và công ty với xí nghiệp quốc doanh ở
Tây Tạng đều đòi hỏi phải biết tiếng
Hán. Nhân viên Tây Tạng phải có khả năng nói Hán ngữ
để giao dịch với mọi người. Cuộc
phản kháng lần này ở Lhasa, đa số những người
Tây Tạng tham dự là những người không thể tìm
được việc làm. Mức
thất nghiệp ở Tây Tạng lên cao đến 40 phần
trăm. Trong một thực tại
như vậy, nhiều người Tây Tạng chỉ học
Hán ngữ mà không học một chút Tạng ngữ nào cả.
Khi một số đông dân Trung Quốc đổ
vào Tây Tạng, phong tục Trung Hoa cũng đồng thời
được đem vào Tây Tạng và đã ảnh hưởng
đến nền văn hóa của Tây Tạng. Người Tây Tạng cũng bắt
đầu hút thuốc, uống rượu, mặc quần
áo thời trang, đi quán nhạc hát karaoke, chạy theo lối
sống tân thời và thường xuyên thăm viếng ổ
điếm mà bây giờ có khá nhiều ở Lhasa. Miả
mai hơn nữa là những màn trình diễn thời trang khêu
gợi còn được tổ chức ở bên ngoài trước
cửa chùa viện Potala nổi tiếng.
Ngay cả khu vực Phật Giáo hiền hòa
cũng không tránh khỏi làn sóng của thói quen người đời.
Dù rằng những ngôi chùa đã được tu bổ để
lấy lại vẻ đẹp thế nào, chúng vẫn chỉ
là chùa viện trên danh nghĩa mà thôi, và được sử
dụng như những điạ điểm cho du khách thăm
viếng. Các nơi này là những con bò vàng của đảng
Cộng Sản TQ vì tiền lệ-phí vào thăm quan rất
mắc. Ngôi chùa nổi tiếng
Jokhang ngày xưa là nơi người dân Tây Tạng thờ
Phật, và nhiều người Tây Tạng đi hành hương
từ các nơi xa xôi bằng cách bái bộ, quỳ lạy
trên đường cho tới tận Lhasa, nhưng họ
không thể vào được trong chùa vì vé vào cửa quá đắt.
Sự
phá huỷ môi trường sinh thái
Sự xây dựng của Trung Cộng ở
Tây Tạng thực ra là đang tàn phá Tây Tạng. Trong khi phá huỷ văn hóa Tây Tạng,
nó cũng gây ra đại họa cho môi trường sinh thái
của Tây Tạng. Các nhà nghiên
cứu trong chính phủ lưu vong Tây Tạng đã nhận
ra rằng sự kiện Trung Cộng khai thác các nguồn tài
nguyên phong phú về hầm mỏ của Tây Tạng, cộng
với số đông người Trung Hoa di dân sang Tây Tạng
đã làm cho hệ thống sinh thái yếu kém của Tây Tạng
mất đi sự quân bình.
Phân nửa của hơn 4 ngàn hồ ở Tây Tạng đã cạn khô. Mức nước trong hồ
Anto tỉnh Thanh Hải đang tiếp tục hạ xuống,
cá chép của sông Hoàng chết rất nhiều, bình nguyên trở
thành sa mạc, cây gỗ trong những rừng lớn bị
cưa xuống, tất cả đều phá hoại trầm
trọng môi trường sinh thái của Tây Tạng.
Theo các thống kê từ năm 1955 tới năm
1985, cây gỗ đem vào nội địa Trung Quốc từ
khu vực tự trị Aba của Tây Tạng thôi, nếu
trải ra từ đầu cây này nối đến đầu
cây kia, thì có thể dài bằng đường vòng quanh quả
địa cầu tới 13 lần.
Khai phá hầm mỏ cũng dẫn đến sự tiêu huỷ môi trường một cách nghiêm trọng. Kể từ khi khai thác mỏ vàng của tỉnh Nima, có 47.025 mẫu đồng cỏ tốt cho trâu bò ăn đã bị phá huỷ, những xe vận tải của hầm mỏ cũng đã tàn phá 25.500 mẫu đất đồng cỏ. Trong một báo cáo gần đây của Trung Cộng, giá trị quặng sắt của thành phố Golmud thôi cũng có thể lên đến 4,7 tỷ đồng Yuan ( khoảng 670 triệu đồng đô-la). Khai thác mỏ này sẽ bắt đầu năm 2008, và ước chừng mức sản xuất hàng năm sẽ lên đến 5 triệu tấn.
Từ khi đường xe lửa nối
Thanh Hải và Tây Tạng khai thông, Trung Cộng sẽ mở
rộng sự khai thác hầm mỏ tài nguyên của Tây Tạng
hơn nữa, lại càng phá huỷ thêm môi trường
sinh thái. Mặc dù Trung Cộng
đã cung cấp nhiều nhu cầu cho khu vực Tây Tạng
những năm gần đây, nó cũng đã lấy đi
rất nhiều tài nguyên của Tây Tạng và đã phá huỷ
lối sống của người Tây Tạng. Sự phá hoại
này nhiều đến độ không thể nói lên được
số lượng.
Sự
xúc phạm Thánh địa, dân tộc, quốc gia, văn
hóa và Thần linh
Sự phá huỷ thiên nhiên không chỉ là một
vấn đề ảnh hưởng đến lối sống
của người Tây Tạng thôi, mà nó còn là một vấn
đề phá hoại linh hồn của thiên nhiên. Đối với người Tây
Tạng, tất cả vạn vật đều có linh hồn,
và vô số những thứ có Thần linh. Đất, nước,
cỏ, rừng cây, tất cả đều là Thần, và
những vị Thần này bảo hộ cho dân tộc Tây Tạng. Một khi loài người phá huỷ
đất đai, nước, đồng cỏ và rừng
cây, người ta sẽ không được những vị
Thần này bảo vệ và họ sẽ phải chịu
tai họa.
Cách suy nghĩ về ‘Thần của Thiên Nhiên’
này đóng một vai trò rất quan trọng trong văn hóa của
Tây Tạng. Bởi vậy, bất
kể lợi ích kinh tế thu được nhiều bao
nhiêu, đối với người Tây Tạng, những người
coi trọng kiếp sau hơn thế giới hiện tại,
nó báo trước một tai họa sẽ bị Trời diệt.
Cũng tương tự như điềm báo trước
tai họa nếu mồ mả tổ tiên bị đào xới
lên đối với người Trung Hoa.
Trung Cộng đã thay đổi hoàn toàn bộ
mặt của Tây Tạng. Tây Tạng, về phương
diện văn hóa và lối sống, đã tiêu mất toàn diện.
Các vị tăng sĩ Tây Tạng chính là những người
thừa nhận gánh vác trách nhiệm về văn hóa của
Tây Tạng. Dân chúng Tây Tạng,
đối với sự tiêu mất dân tộc mình, có lẽ
chưa cảm thấy mạnh mẽ lắm, nhưng đối
với các tăng sĩ nắm giữ trách nhiệm về
văn hoá này, họ cảm thấy còn tệ hơn là chết.
Các tăng sĩ, dưới sự đòi hỏi
của đảng Cộng Sản, phải tụng kinh văn
về “tân giới luật” bày tỏ lòng trung thành với
Trung Cộng và chống lại đức Đạt-Lai lạt
ma. Làm như vậy, đối với một đệ tử
của Phật môn, thì cũng
bằng như là đã chết rồi. Sau khi Hán hóa nền giáo dục ở Tây Tạng,
thì người thừa kế sau này không còn tụng kinh
trong chùa nữa. Khi được xem như là những thắng
cảnh với giá vé thăm viếng cao để mang lại
lợi lộc nhiều, các chùa viện cũng không còn là nơi
Thánh địa để cứu độ con người
nữa. Khi các núi Thánh bị
khai quật lên, Tây Tạng đã mất đi sự bảo
hộ của Thần linh. Vì vậy, đối với tăng
sĩ Tây Tạng mà nói, Tây Tạng đã đi đến bước
sống chết.
Nếu không tiến hành phản kháng, không
tranh đấu, thì Tây Tạng sẽ tiêu mất. Khi đó, xứ Tây Tạng mà có
những toà nhà lầu cao nhiều từng đã không phải
là Tây Tạng của họ nữa, một Tây Tạng mà có đàn
hát hết tối này đến tối nọ với cuộc
sống xa hoa đây đó thì không phải là Tây Tạng của
họ. Tây Tạng mà có xe lửa
rung chuyển không phải là Tây Tạng của họ. Tây Tạng
mà có trường học dạy bằng Hán ngữ, truyền
hình, đài truyền thanh, lại càng không phải là Tây Tạng
của họ.
Dân tộc Tây Tạng là một dân tộc rất
đặc thù vì tất cả toàn dân đều tin vào đạo
Phật. Họ có cách sinh hoạt độc đáo và đặc
thù. Cả thế giới đang biến chuyển. Tây Tạng
cũng đang biến chuyển. Cũng giống như sự
thay đổi ở Dharamsala, nó chuyển từ một xã hội
bao gồm chính phủ và tôn giáo sang một xã hội dân chủ.
Nhưng đây là chọn lựa của họ, một chọn
lựa của tiến bộ.
Sự thay đổi xảy ra ở Tây Tạng
không phải là chọn lựa của chính người dân Tây
Tạng. Đó là sự lựa chọn do Trung Cộng cưỡng
bách. Sự chọn lựa này
là một loại giết chết, giết chết một văn hóa và một dân tộc. Nếu Trung Cộng không xụp đổ,
thì Tây Tạng, một loại văn hóa, sẽ bị biến
mất.
Đức Đạt-Lai lạt-ma đã chứng
kiến mọi chuyện xẩy ra ở Tây Tạng dưới
sự thống trị bạo ngược của Trung Cộng.
Ngài nói với đôi mắt già rướm lệ rằng,
Tây Tạng, một nền văn hóa đặc thù, thì không
quá 15 năm nữa sẽ bị tiêu mất. Đối với một dân tộc
mà nói, sự tiêu mất văn hóa của nó cũng bằng
như là dân tộc đó đã chết đi.
Đối với Tây Tạng hiện nay mà nói,
không phải là vấn đề được bao nhiêu nhân
quyền hoặc là vấn đề văn hóa được
bảo tồn bao nhiêu, mà là sự sinh tồn hay tử vong
của một dân tộc. Là một
dân tộc nhỏ yếu kém, cho dù lòng từ bi có mạnh chừng
nào, cho dù tinh thần có vững chắc chừng nào, nhưng
ở dưới sự áp bức của một chính quyền
chuyên chế tàn bạo nhất, lớn mạnh nhất và dưới
sự kích thích lòng yêu nước với chủ nghiã đại
dân tộc của người Hán do đảng Trung Cộng
sách động, người dân Tây Tạng không đủ sức
để tự cứu dân tộc mình.
Không
có hy vọng nếu thế giới không hậu thuẫn
Để cho Tây Tạng đựợc sinh
tồn, người dân Tây Tạng phải dựa vào lương
tri và chính nghiã của xã hội quốc tế và họ phải
dựa vào lực lượng kinh tế lớn mạnh của các quốc gia trên thế
giới để buộc Trung Cộng phải ngồi xuống
hoà đàm với đức Đạt Lai lạt ma và cho Tây
Tạng được ở vị trí tự trị đặc
thù, thì mới có thể cứu được dân tộc Tây
Tạng.
Nếu như các quốc gia trên thế giới
chỉ nghĩ đến lợi ích của chính mình, không thèm
để ý đến sự sống còn của một dân
tộc, không quan tâm đến sự tiêu mất của một
dân tộc Phật giáo mang trong lòng sự từ bi ở trên
thế giới này, cũng không quan tâm đến trí tuệ,
từ bi, và những lời dạy bảo nhẹ nhàng vui vẻ
của đức Đạt Lai lạt ma, thì Tây Tạng, một
nền văn hóa đặc thù, sẽ tiêu mất vĩnh viễn
trên thế giới này.
Đối với tăng sĩ và dân chúng của Tây Tạng, Trung
Cộng quả thực quá lớn mạnh, sự phản
kháng của họ chỉ là một chút xíu phản kháng vô vọng. Đối với họ, nếu
không bạo phát trong sự im lặng, thì họ sẽ chết
trong im lặng. Mặc dù sự
phản kháng của người Tây Tạng hôm nay chỉ là
một cố gắng thê thảm mà không có hy vọng thành công,
nó đã báo cho thế giới này biết, là khi dân tộc Tây
Tạng chết đi dưới chính quyền bạo ngược
của Trung Cộng, thì dân tộc này đã không chết
trong im lặng, mà dân chúng của nó đã chống lại bằng
máu xương và thân thể của chính mình. Họ đã kêu
gào thế giới giúp họ bằng những lời than khóc
đẫm máu của họ!
Lịch sử sẽ ghi nhớ những dũng
sĩ can đảm chiến đấu cho sự sinh tồn
của dân tộc mình, và sẽ ghi nhớ lời kêu gọi
thê thảm trước cái chết của một dân tộc. Trong sự sinh tồn và tử
vong của dân tộc Tây Tạng, là một người
Trung Hoa mang mặc cảm tội lỗi đối với
dân tộc Tây Tạng, chúng ta không còn cách gì khác hơn là đứng
cùng với dân chúng Tây Tạng để chống lại chính
quyền bạo ngược của đảng Cộng Sản
Trung Quốc.
Để kết thúc bài viết này, chúng ta hãy cầu nguyện xin Thượng Đế thương xót, không để cho Tây Tạng, là một dân tộc, bị chết dưới bàn tay tàn bạo của chính quyền Trung Cộng.
14 tháng 4 năm 2008
Click
here to read the original article in Chinese
Copyright
2000 - 2007 The Epoch USA Inc.