|
|
|
Theo
sách "Thuyết Văn
Giải Tự" [1] từ văn bản của Xu
Shen (147 AD đời nhà Đông Hán), th́ chữ Hán
“Đảng” có nghĩa là “bè” hay là “bọn”; theo mẫu
tự truyền thống là ghép từ chữ
“thượng” ở trên (
thuộc về bộ Tiểu và có nghĩa là 'ưa
chuộng') với chữ "hắc" (thuộc về
bộ Hắc là bộ gốc nằm ở dưới và
có nghĩa là 'đen tối' ).
Ghép hai chữ ấy lại thành chữ 'Đảng'
có nghĩa là “ưa chuộng cái đen tối”. “Đảng” hay “đảng viên”
(ư là “bè” hay “bè lũ”) mang một ư nghĩa mà ngài Khổng
Tử đă từng giảng: "Ngô văn quân tử
bất đảng" ( tạm dịch “người quân
tử nổi tiếng, ta cũng không a dua theo ai mà kéo bè
kết đảng”). Trong
"Luận Ngữ"
của ngài giảng rằng: "Tương trợ
nặc phi viết đảng", ( tạm dịch “giúp
đỡ lẫn nhau che đậy hành vi bất chánh th́
chính là bè đảng)[2]. Trong
lịch sử Trung Quốc, các tập đoàn chính trị
nhỏ thường thường bị xem là ‘bè
đảng’, mà theo văn hóa truyền thống Trung Hoa, th́
là kéo bè kết bọn làm điều xấu; nếu đem
so với câu 'hồ bè cẩu đảng' th́ cũng là cùng
một nghĩa.
Vậy
th́ tại sao Đảng Cộng Sản lại xuất
hiện, trưởng thành và thậm chí c̣n chiếm
đoạt chính quyền hiện tại ở Trung
Quốc? Từ xưa
đến nay Đảng Sộng Sản Trung Quốc liên
tục dỉ tai người ta rằng lịch sử
chọn Đảng Cộng Sản Trung Quốc, rằng
nhân dân Trung Quốc đă lựa chọn Đảng Cộng
Sản, rằng “không có Đảng Cộng Sản th́ không
có một Trung Quốc mới.”
Vậy có phải người dân
Trung Quốc đă chủ động chọn Đảng
Cộng Sản hay không? Hay là
chính Đảng Cộng Sản đă tụ tập bè
đảng để cưỡng ép nhân dân Trung Quốc
phải chấp nhận chúng?
Chúng ta chỉ có thể t́m thấy câu trả lời
này từ lịch sử.
Từ
cuối đời Măn Thanh (1644-1911) cho đến
đầu thời kỳ Dân Quốc (1911–1949); Trung Quốc
đă trải qua bao nhiêu chấn động từ bên ngoài
và phải trải qua bao nhiêu cải cách ở bên trong. Xă hội Trung Hoa rối loạn
thảm thương.
Nhiều phần tử trí thức và sĩ phu ái
quốc muốn cứu nước cứu dân. Tuy nhiên giữa lúc quốc gia suy
yếu và hỗn loạn, ư thức ưu tư lo lắng
của họ khởi lên càng nhiều, đưa
đến trước hết là thất vọng và sau
đó là hoàn toàn tuyệt vọng.
Cũng giống như một người bệnh
đi t́m bất cứ bác sĩ nào, họ t́m cách giải
quyết từ bên ngoài Trung Quốc. Từ Anh Quốc cho đến Pháp Quốc,
phương cách nào cũng thất bại, sau đó họ
đổi sang cách của nước Nga. Họ không ngần ngại
đưa ra một liều thuốc điều trị
cực kỳ mănh liệt với hy vọng rằng Trung
Quốc sẽ nhanh chóng phục hồi.
Cuộc
vận động ngày 4 tháng 5 vào năm 1919 là phản
ảnh rơ rệt nỗi tuyệt vọng này. Một số người
chủ trương chủ nghĩa Vô Chính Phủ. Một số người
đề xuất lật đổ học thuyết Nho
Giáo, lại có một số người đề nghị
du nhập văn hoá nước ngoài. Tóm lại, thái độ của họ là phủ
nhận văn hoá truyền thống Trung Quốc và phản
đối đạo lư Trung Dung của Nho Giáo. V́ nóng ḷng muốn dùng biện pháp
tắt nhanh hơn, những ǵ thuộc về truyền
thống th́ họ chủ trương lật đổ
tất cả. Các phần
tử cấp tiến này (với quan điểm cực
đoan), một mặt không t́m ra phương sách cứu
quốc gia, nhưng mặt khác họ lại tin
tưởng chắc chắn vào lư tưởng và ư chí
của chính ḿnh. Họ cho rằng thế giới này
thực ra không c̣n thuốc ǵ để cứu chữa
nữa, và tin rằng chỉ có chính ḿnh mới t́m ra
giải pháp thích hợp cho sự phát triển tương
lai của Trung Quốc. Do
đó họ theo cách mạng và bạo lực với
đầy nhiệt t́nh to lớn.
Kinh
nghiệm khác nhau giữa các nhóm trí sĩ yêu nước khác
nhau đă dẫn đến lư luận, học thuyết và
đường lối khác nhau.
Cuối cùng một nhóm người đă gặp
người liên lạc của Đảng Cộng Sản
từ Liên Xô. Tư
tưởng “chiếm đoạt chính quyền bằng cách
mạng bạo lực.” của Marx và Lenin đă
được nghênh đón với ḷng nôn nóng của
họ, và cũng phù hợp với nguyện vọng
cứu nước cứu dân của họ. Lập tức họ thành lập
một liên minh. Thế là,
chủ nghĩa Cộng Sản, một tư tưởng
nước ngoài hoàn toàn xa lạ, được đem vào
nước Trung Hoa cổ xưa.
Tổng cộng là có 13 đại biểu tham dự
Đại Hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc
đầu tiên. Sau đó,
một số th́ chết, một số bỏ đi,
một số phản bội Đảng Cộng Sản
Trung Quốc, hoặc chạy theo cơ hội mà làm
việc cho quân Nhật đang chiếm đóng và trở
thành Hán gian, hoặc là ly khai khỏi Đảng Cộng
Sản Trung Quốc và gia nhập Quốc Dân Đảng.
Đến năm 1949, khi Đảng Cộng Sản Trung
Quốc chiếm được quyền hành của Trung
Quốc, chỉ có Mao Trạch Đông và Đổng Tất
Vũ là c̣n lại trong số 13 đảng viên lúc khởi
đầu. Không rơ là những
người thành lập Đảng Cộng Sản Trung
Quốc lúc đó có biết rằng “thần linh” mà họ
rước về từ Liên Xô tức là một "tà linh”
hay không, và không rơ là họ có biết “linh dược” mà
họ mang về để làm quốc gia cường
mạnh kỳ thực là một “thuốc độc”
giết người hay không?
Đảng
Cộng Sản Nga (Bolshevik, sau này được xem là
Đảng Cộng Sản Liên Sô), ngay sau khi thành công trong
cách mạng, đă có dă tâm ḍm ngó Trung Quốc. Năm 1920, Liên Xô thành lập
văn pḥng Bí thư Viễn Đông tại Tây Bá Lợi Á,
là một chi nhánh của Cộng Sản Quốc Tế
Đệ Tam, với nhiệm vụ thành lập và quản
lư Đảng Cộng Sản tại Trung Quốc và các
quốc gia khác. Sumiltsky là trưởng pḥng, và Grigori Voitinsky
là phụ tá. Họ cùng
với Trần Độc Tú và một số người
khác bắt đầu chuẩn bị để thành
lập Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Đề nghị
được đưa lên văn pḥng Bí thư Viễn
Đông vào tháng 6 năm 1921 ở Tây Bá Lợi Á với
kế hoạch thành lập một chi nhánh Trung Quốc
của Cộng Sản Quốc Tế Đệ Tam, đă
chứng nhận rằng Đảng Cộng Sản Trung
Quốc là một chi bộ của Cộng Sản Quốc
Tế Đệ Tam. Vào ngày 23
tháng bảy năm 1921, dưới sự trợ giúp
của Nikolsky và Maring của văn pḥng Bí Thư Viễn
Đông, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đă chính
thức được thành lập.
Từ
đó cuộc vận động chủ nghĩa Cộng
Sản đă bị đưa vào Trung Quốc như là
một thí nghiệm, cũng từ đó sinh mạng
của Đảng được đặt trên tất
cả; nó chinh phục tất cả, và bắt đầu lừa
bịp Trung Quốc v́ thế mà liên tục mang đến
vô vàn tai họa cho Trung Quốc.
Mang
một thứ “tà linh” ngoại lai, như là Đảng
Cộng Sản, vào Trung Quốc, một quốc gia với
lịch sử 5 ngàn năm văn minh, không phải là
một sự việc dễ dàng, v́ nó hoàn toàn không hợp
với truyền thống của người Trung Hoa. Với "tư tưởng
đại đồng của chủ nghĩa Cộng
Sản”, toàn dân và những nhà trí thức yêu nước,
những người muốn phục vụ quốc gia,
đă bị Đảng Cộng Sản Trung Quốc
lừa bịp. Thêm vào đó,
Đảng c̣n bóp méo những lư luận của chủ
nghĩa Cộng Sản, một chủ nghĩa mà
trước đây đă bị Lenin bóp méo một cách nghiêm
trọng rồi, để dựng nên một lư luận
căn bản cho việc tận diệt tất cả
những tư tưởng, nguyên tắc đạo
đức cổ truyền.
Ngoài ra, sự bóp méo lư luận của chủ nghĩa
Cộng Sản chính là dùng
để tiêu diệt bất cứ những ǵ làm bất
lợi cho sự thống trị của Đảng
Cộng Sản, và để tiêu diệt tất cả giai
cấp xă hội và bất cứ nhân sĩ nào mà có thể
đe dọa đến sự thống trị của chúng. Đảng Cộng Sản Trung
Quốc áp dụng sự tiêu diệt tín ngưỡng qua
Cách Mạng Công Nghiệp , cũng như áp dụng
triệt để hơn học thuyết Vô Thần
của chủ nghĩa Cộng Sản . Đảng Cộng Sản Trung Quốc c̣n
thừa kế sự phủ nhận quyền tư hữu
trong chủ nghĩa Cộng Sản , và chúng áp dụng cách
mạng bạo lực theo lư thuyết của Lenin. Đồng thời Đảng
Cộng Sản Trung Quốc lại c̣n thừa kế và phát
triển phần tệ hại nhất trong chế
độ quân chủ của người Trung Hoa.
Lịch
sử của Đảng Cộng Sản Trung Quốc là
một quá tŕnh dần dần thu nhập bất cứ
đường lối tàn bạo, tà ác nào, từ trong và
ngoài nước. Trong quá tŕnh này, Đảng Cộng
Sản Trung Quốc đă làm hoàn hảo chín cái nhân di
truyền mà "đặc sắc Trung Quốc" là: Tà
ác, lường gạt, xúi giục, lưu manh, gián
điệp, cướp đoạt, đấu tranh, tiêu
diệt, khống chế.
Những cái nhân di truyền này được thừa
truyền liên tục, và qua mỗi lần nguy cơ
khủng hoảng, th́ chúng lại càng tiến đến
một bước mà thủ đoạn và tŕnh độ
tà ác của Đảng Cộng Sản càng mạnh mẽ
và phát triển hơn.
Điều
đầu tiên Đảng Cộng Sản Trung Quốc
(ĐCSTQ) thấy hấp dẫn ở chủ nghĩa Marx chính
là: “Dùng cách mạng bạo lực để đập tan
chế độ cũ, tạo dựng chính quyền chuyên
chính của giai cấp vô sản”. Đó chính là cội
rễ tà ác trong chủ nghĩa Marxít-Lêninít.
Lư luận trong
chủ nghĩa duy vật của Karl Marx (Các-Mác) là khái
niệm về kinh tế rất chật hẹp nông cạn
dựa trên sức sản xuất, quan hệ sản
xuất, và giá trị thặng dư. Vào thời kỳ
đầu của giai đoạn chủ nghĩa tư bản
chưa phát triển, Karl Marx đă dự đoán thiển
cận rằng chủ nghĩa Tư bản sẽ sớm
diệt vong, rằng giai cấp vô sản sẽ thắng
lợi. Trên thực tế, lịch sử đă phủ
nhận điều ấy. Cách mạng bạo lực và
sự chuyên chính của giai cấp vô sản trong chủ
nghĩa Marxít-Lêninít chủ trương áp đặt
nền chính trị cường quyền, độc tài
với giai cấp vô sản làm chủ. Bản Tuyên ngôn
của Cộng sản đă lấy sự đối
lập giai cấp và đấu tranh giai cấp để
tŕnh bày quan điểm lịch sử và quan điểm
triết học của Đảng cộng sản. Mục
đích đấu tranh của bọn vô sản là
để đả phá mọi đạo đức
truyền thống và quan hệ xă hội, và cướp
đoạt chính quyền. Ngay từ khi xuất hiện,
chủ nghĩa Cộng Sản đă đối chọi
với tất cả những ǵ truyền thống.
Thiên tính tự
nhiên của con người thông thường là tẩy chay
bạo lực. Con người trong bạo lực biến
đổi thành bạo ngược. Học thuyết bạo
lực của Đảng cộng sản đều
bị nhân loại, trên bản tánh, phủ nhận, từ
chối ở khắp nơi. Tất cả các hệ tư
tưởng, triết học, truyền thống trong quá
khứ đều không có chủ trương nào như
thế cả. Hệ thống khủng bố của
cộng sản đúng là từ trên không rơi xuống trái
đất.
Loại quan niệm tà ác này có
tiền đề là “nhân định thắng thiên”, con
người cải tạo lại thế giới.
Những lư tưởng như “giải phóng toàn nhân
loại”, “thế giới đại đồng”[3] mà
Đảng cộng sản dùng để lường
gạt, đă thu hút được không ít người,
đặc biệt là những người quan tâm
đến t́nh trạng của con người, hoặc khao
khát lập sự nghiệp trong xă hội. Bọn họ
quên rằng ở trên c̣n có Trời. Những lời dối
trá rất đẹp đẽ như xây dựng “thiên
đường tại nhân gian" đă khiến họ
miệt thị truyền thống, coi thường sinh
mạng người khác, mà thực ra là làm cho sinh mạng
của chính ḿnh c̣n nhẹ hơn lông hồng..
“Chủ nghĩa Cộng Sản
thế giới” được con người chế
tạo ra để phụng thờ như chân lư, kích
động nhiệt t́nh của người ta
để “sục sôi
nhiệt huyết trong tim, quyết phen này sống chết,
…” [4]. Đảng cộng sản sử dụng ư niệm
hoang đường, tuyệt đối như thế
để cắt đứt quan hệ giữa con
người và Trời ở trên, cắt đứt chính
họ với tổ tông, với huyết mạch truyền
thống của dân tộc. Từ đó khiến
người ta hiến thân cho chủ nghĩa Cộng
Sản hoang đường, và gia tŕ năng lượng
tàn sát, bạo ngược của Đảng Cộng
Sản.
Kẻ tà chắc
chắn phải lường gạt. Để lợi
dụng công nhân, Đảng Cộng Sản tán dương
họ thành “giai cấp tiên tiến nhất”, “đại
công vô tư”, “giai cấp lănh đạo”, “đội quân
tiên phong của giai cấp cách mạng vô sản”…
Để lợi dụng nông dân, Mao Trạch Đông
vuốt ve “không có bần nông th́ không có cách mạng,
đả kích nông dân chính là đả kích cách mạng”[5]
rồi hứa hẹn “người cày có ruộng”…
Đến lúc cần giai cấp tư sản ủng
hộ, Đảng cộng sản thổi phồng họ
lên thành “bạn đồng hành của cách mạng vô
sản” rồi hứa hẹn một chế độ “dân
chủ cộng hoà”. Khi Đảng cộng sản Trung
Quốc (ĐCSTQ) gặp nguy cơ suưt bị Quốc Dân
Đảng tiêu diệt, bèn hô hào “người Trung Quốc
không hại người Trung Quốc”, và hứa hẹn
sẽ phục tùng sự lănh đạo của Quốc Dân
Đảng. Kết quả là ǵ? Kháng chiến Trung-Nhật
vừa kết thúc(1937-1945), ĐCSTQ gom toàn lực lật
đổ chính quyền Quốc Dân Đảng. Sau khi
chiếm đoạt chính quyền không lâu, ĐCSTQ lập tức tiêu diệt giai cấp
tư sản, và biến công nhân và nông dân thành giai cấp vô
sản triệt để, chẳng c̣n một chút sở
hữu ǵ.
‘Thống
nhất chiến tuyến’ là thủ đoạn
lường gạt điển h́nh của Đảng
Cộng Sản. Để giành thắng lợi trong
cuộc nội chiến giữa Đảng cộng
sản và Quốc Dân Đảng, Đảng cộng
sản Trung Quốc đă thay đổi kế sách
trước đó vốn coi địa chủ phú nông là
giai cấp thù địch phải giết bỏ, mà thay
bằng “chính sách thống nhất chiến tuyến lâm
thời”. Ngày 20 tháng 7 năm 1947, Mao Trạch Đông ra
chỉ thị: “ngoài một số ít những phần
tử phản cách mạng, th́ phải có thái độ hoà
hoăn, nới lỏng với giai cấp địa chủ…
giảm bớt kẻ thù”. Nhưng sau khi ĐCSTQ chiếm
được chính quyền, địa chủ phú nông vẫn
không thoát khỏi vận mạng của ‘quần thể
bị tiêu diệt triệt để'.
Nói một
đằng làm một nẻo là điều b́nh
thường đối với Đảng cộng
sản. Khi Đảng Cộng Sản cần lợi
dụng đảng phái dân
chủ, liền kêu gọi “sống chung lâu bền, giúp nhau
quản lư, thành thật với nhau, vinh nhục có nhau, v.
v.”.. Bất cứ ai không đồng ư hay từ chối
theo tư tưởng, hành xử, và tổ chức của
Đảng đều bị tiêu diệt. Marx, Lenin, và các
lănh tụ Đảng cộng sản đều từng
tuyên bố thẳng rằng, quyền lực chính trị
của Đảng Cộng Sản không chia xẻ với bất
cứ ai hay tổ chức nào khác. Ngay từ đầu,
độc tài chuyên chế đă là nhân di truyền bất
di bất dịch của chủ nghĩa cộng sản.
Đảng cộng sản Trung Quốc là bạo
ngược và độc tài. Nó chưa bao giờ cùng sinh
sống thành thực với bất cứ đảng phái
chính trị hay tập đoàn nào cả, bất kể là
trong thời kỳ cướp được chính
quyền hay nắm chính quyền, kể cả vào những
thời kỳ “nới lỏng” nhất.
Bài học
lịch sử dạy rằng không thể tin vào bất
cứ hứa hẹn nào của Đảng Cộng
Sản, đừng mong tưởng Đảng Cộng
Sản thực hiện sự cam kết. Ai tin lời
Đảng Cộng Sản vào bất cứ vấn
đề ǵ, rồi sẽ có ngày phải trả giá
bằng tính mạng của chính ḿnh.
Lường
gạt là để kích động thù hận. Đấu
tranh th́ phải dựa vào thù hận. Đâu không có thù
hận, th́ Đảng Cộng Sản xúi bẩy, tạo ra
thù hận.
Loại h́nh
thức chế độ ḍng tộc và sở hữu
đất đai đă ăn sâu vào nông thôn Trung Quốc.
Đó là chướng ngại lớn trên con
đường thiết lập chính quyền của
Đảng Cộng Sản. Xă hội nông thôn vốn là hài
hoà. Quan hệ giữa địa chủ có sở hữu
đất đai và nông dân được thuê dùng không
phải là quan hệ đối lập tuyệt
đối. Địa chủ cho nông dân thuê đất canh
tác, c̣n nông dân dựa vào đó để sinh sống và
nộp tiền thuê hay thóc lúa cho địa chủ.
Địa chủ và nông dân dựa vào nhau mà sống qua hàng
bao nhiêu thế hệ như thế.
Quan hệ
‘dựa vào nhau để sinh tồn’ ở một mức
độ nào đó đă bị Đảng Cộng Sản
bóp méo thành quan hệ của giai cấp bóc lột, giai
cấp đối nghịch. Nó biến đổi bè
bạn thành cừu địch, biến hài hoà thành chống
đối, làm thành thù hận, làm thành đấu tranh,
biến hợp lư thành vô lư, biến trật tự thành
hỗn loạn, biến đổi cộng hoà thành chuyên
chế. Đảng Cộng Sản chủ trương
cướp đoạt tài sản, vừa cướp
của giết người, giết bản thân
người địa chủ phú nông đó, giết
người nhà của địa chủ phú nông, rồi
giết đến cả gia tộc của địa
chủ phú nông. Có nhiều người nông dân không đành
ḷng theo kẻ cường bạo nên ban ngày th́ cướp
nhưng đến đêm lại quay lại trả
đồ cho gia chủ; rồi bị đội công tác
biết được và bị chỉ trích là “giác ngộ
về giai cấp” không cao.
Bạch mao
nữ
[6]vốn là một câu chuyện xưa về tiên
nữ, không có liên quan ǵ đến đấu tranh giai
cấp hay áp bức bóc lột. Nhưng đội văn
công đă sửa đổi biên soạn thành kịch nói, ca
kịch, rồi cả kịch múa ballet, và dùng để xúi
bẩy, kích động thù hận giai cấp.
Vào Thế
Chiến Thứ Hai, khi Nhật Bản xâm lược Trung
Quốc, Đảng cộng sản đă không đánh
Nhật, mà c̣n công kích chính phủ Quốc Dân Đảng là
bán nước v́ không đánh Nhật, thậm chí ngay lúc
quốc gia lâm nguy, nó c̣n xúi bẩy người dân chống
lại Quốc Dân Đảng.
Xúi bẩy thù
hận giữa một nhóm người dân này với
một nhóm người dân khác là một thủ đoạn
rập khuôn cho các cuộc vận động của
Đảng Cộng Sản. Công thức phân chia giai cấp
dân chúng ‘95:5’ cũng từ đó mà ra. Đảng Cộng
Sản sau này đều dùng nó trong các phong trào chính trị,
cho đến nay đă không ngừng phát triển thành
một thủ đoạn nhuần nhuyễn. Đảng
cộng sản chia dân chúng thành hai phần, 95% và 5%, trong
đó nếu rơi vào phần 95% th́ an toàn vô sự, c̣n
rơi vào phần 5% th́ bị coi như kẻ thù phải
bị thanh trừng đấu tố. V́ sợ hăi và
muốn an toàn, bảo hộ cho chính ḿnh mà người dân
phải tranh đấu để chuyển sang phần 95%.
Hậu quả là họ hăm hại lẫn nhau, tạo thù
hận sâu sắc giữa mọi người.
Lưu manh, côn
đồ là cơ sở của tà ác, muốn tà th́ phải
dùng bọn lưu manh, côn đồ, cặn bă của xă
hội. Những cuộc cách mạng thường
thường đều xuất phát từ những
phần tử lưu manh, cặn bă trong xă hội nổi
loạn lên mà thành. Ví dụ điển h́nh là cách mạng
của ‘Công xă Pa-ri (the Paris commune)', mà thực sự bao
gồm đốt phá, giết người, bạo
ngược được dẫn đầu bởi
bọn lưu manh, cặn bă xă hội. Ngay Karl Marx cũng
khinh rẻ giai cấp vô sản lưu manh này [7], trong
bản Tuyên ngôn của Cộng sản [8], Marx viết rằng “Cái
‘giai cấp nguy hiểm’, cặn bă xă hội, mà là thành
phần thối nát tiêu cực bị vứt đi bởi
tầng lớp hạ cấp nhất trong xă hội cũ,
th́ có thể ở chỗ này chỗ nọ được
cách mạng vô sản lôi cuốn vào phong trào, nhưng
điều kiện sinh hoạt của họ lại
khiến họ sẵn sàng bán ḿnh cho những mưu
đồ của phe phản động.” C̣n nông dân, trên
phương diện khác, theo Karl Marx và Engels,
được coi là có tính phân tán và tính ngu muội nên “không
xứng đáng là một giai cấp”.
Đảng
cộng sản Trung Quốc c̣n phát triển xa hơn
những thứ trong tư tưởng Karl Marx về
phương diện tà ác. Mao Trạch Đông nói: “lưu
manh, côn đồ, cặn bă xă hội là tầng lớp
vứt đi của xă hội, nhưng trong cách mạng nông
thôn, th́ họ là dũng cảm nhất, triệt để
nhất, kiên quyết nhất” [9]. Bọn lưu manh vô
sản là đội ngũ gia tăng bạo lực và duy
tŕ chính quyền ở nông thôn cho Đảng Cộng
sản Trung Quốc (ĐCSTQ)
vào thời kỳ đầu. Danh từ ‘cách mạng’ trong
tiếng Trung Hoa có nghĩa là ‘cắt đứt sinh
mạng’ (= giết), trên thực tế nó diễn ra đúng
như vậy. Đối với người dân
lương thiện, nó thật kinh khủng và khiếp hăi.
Ban đầu Đảng Cộng Sản tự nhận là
‘vô sản lưu manh’, nhưng đến thời Cách
mạng Văn hoá, bọn chúng cảm thấy danh từ
‘lưu manh’ như thế không tốt, khó lọt tai, nên
bỏ nó đi, và tự nhận là người ‘vô sản’.
Bọn lưu
manh, côn đồ thường có biểu hiện vô lại
một cách ngu xuẩn. Có lần bị chỉ trích là
độc tài, viên chức Đảng cộng sản
đă biểu lộ khuynh hướng côn đồ, vô liêm
sỉ mà chẳng ngượng miệng trả lời
trắng ra rằng: “anh nói đúng, chúng tôi chính là như
vậy. Qua tất cả những kinh nghiệm mà
người Trung Quốc trải qua mấy chục năm
nay, đ̣i hỏi chúng tôi phải thực hành “nhân dân dân
chủ chuyên chính”. Chúng tôi gọi đó là “nhân dân dân chủ độc tài”.
Lừa dối,
kíck động bạo lực, sử dụng bọn
lưu manh, cặn bă xă hội c̣n chưa đủ,
những kỹ thuật gián điệp và gây chia rẽ
cũng được Đảng Cộng Sản sử
dụng thành thạo. Nằm vùng là sở trường
của Đảng Cộng Sản. Mấy thập niên
trước đây có ba gián điệp ‘xuất sắc
đứng đầu’— Tiền Tráng Phi, Lư Khắc Nông và
Hồ Bắc Phong — đều ở dưới sự
chỉ huy của Trần Canh, trưởng khoa số 2
Trường Đặc vụ Trung ương của
Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Tiền
Tráng Phi là thư kư đặc vụ và là tuỳ tùng thân tín
của Từ Ân Tăng, chủ nhiệm Ban Điều Tra
Trung Ương của chính phủ Quốc Dân Đảng,
Tiền Tráng Phi đă bí mật gởi tin tức t́nh báo về
điều quân chiến lược lần một và hai
của Quốc Dân Đảng trong việc bao vây
Đảng cộng sản ở tỉnh Giang Tây, rồi
dùng hệ thống nội bộ chuyển thư của
Trung Ương Quốc Dân Đảng mà gởi hai lần
tới Lư Khắc Nông để hắn mang tay đến
cho Chu Ân Lai [10]. Tháng 4 năm 1930, một nhóm đặc
vụ hai-mặt do Ban Điều tra Trung ương
Quốc Dân Đảng tổ chức và chu cấp chi phí
đă được thành lập ở đông bắc Trung
Quốc. Trên bề mặt, đó là của Quốc Dân
Đảng do Tiền Tráng Phi chỉ huy, nhưng thực
chất là của Đảng cộng sản dưới
sự chỉ huy của Trần Canh.
Lư Khắc Nông ban
đầu gia nhập Bộ Tổng tư lệnh Hải
Lục Không quân Quốc Dân Đảng với chức
vụ dịch giải mật mă. Chính Lư Khắc Nông đă giải
mật mă tin khẩn cấp về việc bắt giữ
và tạo phản của Cố Thuận Chương [11],
một chỉ huy trưởng pḥng An Ninh của
Đảng cộng sản. Tiền Tráng Phi đă lập
tức chuyển bức điện đă giải mă cho Chu
Ân Lai, v́ vậy một số lớn gián điệp
của Đảng cộng sản mới thoát khỏi
lưới.
Dương
Đăng Doanh, một đặc vụ thân Cộng làm
ở Ban Điều tra Trung Ương Quốc Dân
Đảng, biệt phái ở Thượng Hải. Khi
Đảng cộng sản thấy đảng viên nào không
đáng tin nữa, liền ra lệnh cho Dương đi
bắt họ và đem đi hành quyết. Một cán bộ
lăo thành của Đảng cộng sản ở Hà Nam, do làm
mích ḷng một đảng viên khác, v́ thế liền bị
phe của họ Dương giựt dây bầy mưu
để tống giam ông ta vào nhà ngục của Quốc
Dân Đảng trong nhiều năm.
Vào thời
chiến tranh Giải Phóng [12] t́nh báo của Đảng
cộng sản Trung Quốc đă cài được
một tên nằm vùng là người rất thân cận
với Tưởng Giới Thạch [13], đó là Lưu
Phỉ, trung tướng và là thứ trưởng Bộ
quốc pḥng, và cũng là người nắm quyền
điều động quân đội của Quốc Dân
Đảng. Khi quân lính Quốc Dân Đảng c̣n chưa
nhận được lệnh điều binh, th́ tin t́nh
báo đă lọt sang Diên An, tổng hành dinh của
Đảng cộng sản. Quân Quốc Dân Đảng
chưa đến th́ Đảng cộng sản đă có
kế hoạch pḥng bị rồi. Có một lần Hùng
Hướng Huy, bí thư và là tuỳ tùng thân tín của
Hồ Tôn Nam [14] đă tiết lộ kế hoạch hành
quân đánh Diên An cho Chu Ân Lai. Kết quả, khi Hồ Tôn
Nam mang quân đến, chỉ thấy Diên An là cái thành
trống không. Chu Ân Lai đă từng nói: “Mệnh lệnh
tác chiến của Tưởng Giới Thạch c̣n chưa
đến các Tư Lệnh Bộ Binh của họ
Tưởng, mà Mao chủ tịch đă thấy
được rồi”.
Tất cả
những ǵ Đảng cộng sản đạt
được là từ cướp bóc mà ra. Khi Đảng
Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) dựng lập
Hồng Quân để cai trị bằng quân sự, th́ chúng
cần phải có tiền cho vơ khí đạn dược,
lương thực, và quần áo. Do đó, Đảng
cộng sản phải ‘gây quỹ’ qua h́nh thức là dùng
thủ đoạn trấn lột nhà giàu địa
phương hoặc cướp ngân hàng, hành tung giống
hệt băng đảng đi cướp bóc. Ví dụ Lư
Tiên Niệm [15], một lănh đạo cao cấp trong quân
đội Hồng Quân, có nhiệm vụ là điều hành
Hồng Quân đi bắt cóc những người nhà giàu
trong vùng Ngạn Tây tỉnh Hồ Bắc. Chúng không
những chỉ bắt một người, mà c̣n chọn
ra mỗi ḍng tộc giàu có, bắt cóc lấy một
người. Người bị bắt vẫn
được sống để chúng dùng họ mà tống
tiền nhiều lần gia đ́nh nạn nhân để
lấy tiền phục vụ cho Hồng Quân. Chỉ
đến chừng nào Hồng Quân thỏa măn đ̣i
hỏi hoặc gia đ́nh nạn nhân đă cạn kiệt
tiền tài, chúng mới thả người ra, phần
nhiều là lúc họ sắp chết. Có những
trường hợp do bị khủng bố và tra tấn
quá nhiều, nên chưa về đến nhà th́ họ đă
chết.
Dưới chiêu
bài “đả đảo địa chủ để
lấy ruộng”, Đảng Cộng Sản triển khai
rộng răi thủ đoạn trấn lột ra toàn xă
hội, thay thế truyền thống với ‘trật
tự mới’ của Đảng. Đảng Cộng
Sản làm đủ điều ác, to có nhỏ có, và không
làm được điều ǵ tốt cả. Nó thường
dùng những món lợi nhỏ dụ dỗ người ta
để xúi bẩy một số người đi
tố cáo một số người khác. Kết quả là
thiện lương và đạo đức trong xă hội
bị hoàn toàn biến mất, và được thay thế
bởi đấu tranh và giết chóc. “Cộng sản
đại đồng” thực tế chính là đồng
nghĩa với công khai trấn lột, cướp
đoạt bằng bạo lực.
Lường
gạt, xúi bẩy, lưu manh, thâm nhập nằm vùng
đều là để cướp đoạt và
đấu tranh. Triết lư của Đảng cộng
sản là triết lư đấu tranh. Cách mạng của
Cộng sản quyết không phải chỉ có đấu
tranh, và cướp bóc vô tổ chức. Mao nói rằng: “
Mục tiêu chủ yếu trong sự công kích của nông dân
là nhắm vào cường hào địa chủ, nhưng qua
đó cũng đả phá sạch luôn tất cả các
chế độ và các loại tư tưởng về gia
pháp tổ tông, thanh lư tham quan ô lại, cũng như
tập quán cũ của xóm làng.” [16]. Mao rơ ràng đă ra lệnh tiêu huỷ tất
cả chế độ truyền thống và tập quán
của nông thôn.
Đấu tranh
của Đảng cộng sản c̣n bao gồm cả
đấu tranh vơ trang. “Cách mạng không phải là mở
tiệc đăi khách, không phải là ngâm thơ làm văn,
không phải là vẽ tranh thêu thùa; nó không phải là một
thứ trang nhă kiểu cách, êm đềm thư thả,
nhẹ nhàng nho nhă, khiêm cung ôn hoà. Cách mạng là bạo
lực, là giai cấp này dùng bạo lực lật
đổ giai cấp kia”[17]. Khi cướp đoạt
chính quyền, tất phải dùng tranh đấu bạo
lực. Chỉ mấy chục năm sau, nhân di truyền
về đấu tranh như vậy lại được
Đảng cộng sản dùng để ‘giáo dục’
thế hệ kế tiếp trong Cách mạng Văn hoá.
Đảng
Cộng Sản làm rất nhiều việc gian ác, tuyệt
t́nh nghĩa: hứa hẹn ‘thiên đường ở nhân
gian’ cho trí thức, sau đó xếp họ vào ‘cánh Hữu’,
rồi vào hàng thứ chín [18] của giai cấp thù
địch và phải bị tiêu diệt cùng với
địa chủ và các phần tử phản cách mạng.
Nó c̣n làm những việc như cướp đoạt gia
tài của các nhà tư bản và địa chủ, tiêu
diệt địa chủ và phú nông, phá bỏ trật
tự ở thôn quê, đảo lộn và cướp
đoạt chính quyền địa phương, bắt
cóc tống tiền phú nông, tẩy năo tù binh, cải tạo
giai cấp công thương và tư bản, cài gián
điệp và ly gián Quốc Dân Đảng, ly khai khỏi
Cộng sản quốc tế rồi sau đó phản bội
Cộng sản quốc tế, trừ sạch phần
tử đối lập qua nhiều cuộc vận
động chính trị liên tiếp kể từ khi
cướp được chính quyền năm 1949, đe
doạ những đảng viên của ḿnh, v.v., tất
cả các việc làm đều rất tuyệt t́nh
nghĩa.
Tất cả
những sự việc kể trên đều dựa trên
nền tảng lư luận của Đảng Cộng
Sản về diệt tuyệt quần thể. Mỗi
một cuộc vận động chính trị trong lịch
sử Đảng cộng sản đều là một
chiến dịch khủng bố với ư định
diệt sạch một quần thể dân chúng. Ngay từ
đầu, Đảng cộng sản đă bắt đầu
chế tạo liên tục một hệ thống lư luận
hoàn chỉnh về diệt tuyệt quần thể, mà
đến từ những lư luận của Đảng
cộng sản như — giai cấp luận, cách mạng
luận, đấu tranh luận, bạo lực luận,
chính quyền chuyên chế luận, vận động
luận, đảng phái chính trị luận,… — toàn là
tổng hợp của các kinh nghiệm thực tiễn
đủ loại đủ kiểu về diệt
tuyệt quần thể.
Điểm
đặc sắc nhất trong việc diệt tuyệt
quần thể của
Đảng Cộng Sản là nó diệt tuyệt
lương tri và nhân tính từ trên tư tưởng.
Điều này phù hợp với phương pháp thống
trị bằng bạo lực, khủng bố để
phục vụ các lợi ích căn bản của tập
đoàn. Nó phải tiêu diệt bạn v́ bạn phản
đối nó; nhưng cũng có thể phải tiêu diệt
bạn chính v́ bạn ủng hộ nó. Khi nó nhận
thấy rằng cần phải tiêu diệt ai, th́ nó
phải t́m cách tiêu diệt. V́ vậy ai cũng cảm
thấy nguy cơ bên ḿnh, và đều sợ hăi
Đảng cộng sản.
Tất cả
những nhân di truyền kể trên đều dẫn
đến cùng một mục đích: khống chế
với áp lực của sợ hăi khủng bố. Sự tà
ác của Đảng Cộng Sản đă khiến cho nó
trở thành kẻ thù tự nhiên của mọi lực
lượng xă hội. Ngay từ ngày thành lập,
Đảng Cộng Sản đă giăy giụa trong từng
cơn nguy cơ liên tiếp lần này rồi lần khác,
mà nguy cơ lớn nhất luôn luôn là sự sống c̣n của
nó. Nó tồn tại trong sợ hăi, vĩnh viễn có
cảm giác nguy cơ. Thế nhưng, trong nguy cơ, sự
sợ hăi đă trở thành lợi ích cao nhất cho
Đảng cộng sản, đó là duy tŕ sự tồn
tại và quyền lực của tập đoàn
Đảng cộng sản qua những đợt khó
khăn. Để bù đắp cho sự suy yếu lực
lượng, Đảng Cộng Sản phải
thường xuyên bổ xung những điều tệ
hại hơn ở bề mặt. Lợi ích của
Đảng không phải là lợi ích cá nhân của bất
cứ đảng viên nào, cũng không phải là tổng
hợp các lợi ích cá nhân của đảng viên; mà là
lợi ích của tập đoàn Đảng Cộng
Sản, nó được đặt cao hơn tất
cả những ǵ của cá nhân.
‘Đảng tính’
là một bản chất lợi hại nhất của con
quỷ tà linh này. Nó có thể mở rộng vô hạn,
nuốt trửng ‘nhân tính’, và biến người ta thành
một năng lực bắt buộc phải phi nhân tính. Ví
dụ Chu Ân Lai và Tôn Bính Văn đă từng là đồng
chí. Sau khi Tôn Bính Văn qua đời, Chu Ân Lai đă
nhận con gái của Tôn Bính Văn là Tôn Duy Thế làm con
nuôi. Trong thời Cách mạng Văn hoá, Tôn Duy Thế bị
đấu tố, và sau đó chết trong tù do một cái
đinh dài được đóng vào đầu. Lệnh
bắt Tôn Duy Thế chính là do cha nuôi của cô là Chu Ân Lai kư.
Một trong
những người lănh đạo thời kỳ
đầu của Đảng Cộng Sản Trung Quốc
(ĐCSTQ) vào thời chiến tranh Trung–Nhật là Nhậm
Bật Thời được Đảng giao nhiệm
vụ buôn bán nha phiến (ma tuư). Mà nha phiến là dấu
hiệu của ngoại bang xâm lược Trung Quốc vào
thời đó, bởi v́ Anh Quốc đă dùng nha phiến
xuất cảng sang Trung Quốc để làm kiệt
quệ kinh tế Trung Hoa và khiến cho dân Trung Quốc
bị nghiện ma tuư. Bất chấp sự chống
đối nha phiến trên toàn quốc, Nhậm Bật
Thời đă dám trồng nha phiến trên một vùng
rộng lớn, chẳng kể đến nguy cơ bị
dân tộc kết tội, thật ra là cần phải có
chút ‘đảng tính’. Bởi
v́ tính chất bất hợp pháp và nhạy cảm của
‘nha phiến’, nên bấy giờ ĐCSTQ nói trại thành ‘xà
pḥng’. Khi buôn bán nha phiến với các quốc qia lân
cận, lợi nhuận thu vào được dùng cho sự
tồn tại của Đảng Cộng Sản.
Đến kỷ niệm 100 năm sinh nhật của
Nhậm Bật Thời, một lănh đạo thế
hệ sau của ĐCSTQ đă phát biểu ca ngợi công
lao của Nhậm Bật Thời: “Nhậm Bật Thời
có phẩm giá cao, và là một đảng viên cộng
sản gương mẫu. Ông ta tin tưởng kiên tŕ vào
Đảng, và trung thành vô hạn với sự nghiệp
của Đảng”.[19]
Trương
Tư Đức cũng là một gương mẫu cho
Đảng tính. ĐCSTQ nói rằng anh ta hy sinh do ḷ gạch
sập đột ngột, c̣n người ta nói rằng anh
ta chết khi đang chế biến nha phiến. V́
Trương Tư Đức là một người ít nói
trong Đoàn cảnh vệ Trung Ương, không bao giờ
đ̣i hỏi thăng chức, nên khi anh chết, mới nói
rằng cái chết của anh “nặng tựa Thái Sơn”
[20], có nghĩa là ám chỉ cuộc đời của anh ta
rất quan trọng.
Sau này c̣n có
một mẫu h́nh nữa là Lôi Phong, nổi tiếng
với danh hiệu là “chiếc ốc vít không bao giờ han
rỉ trong guồng máy cách mạng”. Trong một thời gian dài, cả Lôi Phong và
Trương Tư Đức đều được
dùng để giáo dục người dân Trung Quốc trung
thành với Đảng Cộng Sản. Mao Trạch Đông
có nói “ Sức mạnh của gương mẫu là vô biên”.
Ngoài ra cũng có nhiều anh hùng khác của Đảng
cộng sản được dùng để tuyên truyền
“ư chí sắt thép và nguyên tắc của Đảng tính”.
Sau khi chiếm
đoạt chính quyền, Đảng cộng sản càng
phát triển rộng cái nhân di truyền về khống
chế tư tưởng con người để chế
tạo những “ốc vít” mới và ‘công cụ’ mới cho
Đảng trong những thế hệ kế tiếp.
Đảng tính được nhấn mạnh lên
để trở thành một lối suy nghĩ nhất
định, một mẫu h́nh cho các hành vi rập khuôn. Ban
đầu, các khuôn mẫu cho hành vi Đảng tính chỉ
dùng trong nội bộ Đảng, nhưng ngay sau đó
đă mở rộng quy mô đến toàn dân toàn quốc.
Dưới cái vỏ dân tộc, lối suy nghĩ và hành vi
như thế được dùng để tẩy năo
người dân phải phục tùng theo cơ chế tà ác
của Đảng cộng sản.
Đảng
cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) mô tả lịch
sử của ḿnh là một lịch sử vẻ vang “liên
tiếp đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác”. Khi cố gắng tự tô vẽ
bộ mặt của ḿnh trước công chúng chính là
để hợp thức hoá sự cướp đoạt
quyền lực của Đảng Cộng Sản.
Thực ra, lịch sử của Đảng Cộng
Sản không có ǵ vẻ vang cả. Chỉ bằng cách áp
dụng 9 cái nhân di truyền là: tà ác, lường gạt,
xúi bẩy, lưu manh, gián điệp, trấn lột,
đấu tranh, diệt tuyệt, khống chế th́ chúng mới có thể gây
dựng và duy tŕ chính quyền .
Đảng
Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) bảo với
người dân rằng: “Cách mạng tháng Mười
nổ phát pháo đầu tiên, đưa chủ nghĩa
Marxism-Leninism đến với chúng ta”[21]. Tuy nhiên
Đảng cộng sản Trung Quốc khi mới thành
lập, là một chi bộ Á châu của Đảng
cộng sản Liên Xô, mà ngay từ đầu nó là một
đảng phái chính trị bán nước.
Trong thời
kỳ mới thành lập, ĐCSTQ không có tiền, không có lư
luận, không có kinh nghiệm thực tiễn nào cả,
lại càng không có cơ sở chủ yếu, gia nhập
Đảng Cộng Sản Quốc Tế chỉ là
muốn tham dự và nương tựa vào cách mạng
bạo lực của Cộng sản quốc tế. Cách
mạng bạo lực của Đảng Cộng Sản
tại Trung Quốc chỉ là một cái mạch tiếp
nối theo cách mạng bạo lực từ giai
đoạn của Marx và Lenin. Đảng Cộng Sản
Quốc Tế chính là bộ tổng chỉ huy cho sự
đảo chánh chính quyền của các quốc gia trên toàn
cầu, ĐCSTQ lúc đó chỉ là một chi bộ Đông
Phương của Cộng sản Quốc Tế, và
chấp hành theo đường lối chủ nghĩa
Đế Quốc của Hồng Quân Liên Xô. ĐCSTQ
phải dựa vào Đảng Cộng Sản Liên Xô
để trưởng thành kinh nghiệm trong sự
cướp đoạt chính quyền bằng bạo
lực và áp dụng chế độ độc tài chuyên
chính của giai cấp vô sản. Đường lối
chính trị, đường lối tư tưởng, và
đường lối tổ chức đều phải
tuân theo chỉ thị của Đảng Cộng Sản Liên
Xô. ĐCSTQ cũng bắt chước đường
lối bí mật và ngoài ṿng pháp luật của các tổ
chức phi pháp để tạo nên một phương
thức tồn tại, áp dụng sự theo dơi và khống
chế thật chặt chẽ. Đảng Cộng Sản
Liên Xô không những là xương sống chính của
Đảng cộng sản Trung Quốc, mà c̣n hỗ
trợ cho nó.
Tại
Đại hội đại biểu lần thứ
nhất của Trung Cộng, Đảng chương
của Đảng cộng sản Trung Quốc
được thông qua chính là do Cộng sản Quốc
tế soạn ra, bản Tuyên
ngôn cũng được
soạn theo chủ nghĩa Mác-Lê, đấu tranh giai
cấp, chính quyền chuyên chế của giai cấp vô
sản, học thuyết lập Đảng, đều
căn cứ theo cương lĩnh của Đảng
cộng sản Liên Xô. Linh hồn của Đảng
cộng sản Trung Quốc là phẩm vật ngoại lai
theo thể thức Đảng Cộng Sản Liên Xô.
Trần Độc Tú, một lănh đạo của
ĐCSTQ, đă từng có lần bất đồng ư
kiến với đại biểu Ma-ring của Cộng
sản quốc tế. Ma-ring gởi một phong thư cho
Trần Độc Tú, nói rằng nếu ông Trần là
đảng viên thật sự của Đảng Cộng
Sản, th́ ông phải tuân theo mệnh lệnh từ
Đảng Cộng sản quốc tế. Dù Trần
Độc Tú là một trong những người sáng
lập ĐCSTQ, ông ta không làm được ǵ hơn là tuân
theo mệnh lệnh của Cộng sản Quốc tế.
Kỳ thực, ông ta và Đảng là chỉ lệ thuộc
và hèn hạ khuất phục Đảng cộng sản
Liên Xô.
Năm 1923,
Trần Độc Tú đă công khai thừa nhận tại
Đại hội đại biểu Đảng Cộng
Sản Trung Quốc lần thứ ba, rằng hầu
hết các chi phí của Đảng là hoàn toàn do Cộng
sản Quốc tế chu cấp. Trong một năm,
Cộng sản Quốc tế đă cung cấp khoảng
200 ngàn đồng yuan cho Đảng cộng sản Trung
Quốc, nhưng kết quả thu được không hài
ḷng mấy, và Cộng sản Quốc tế trách các
đồng chí Trung Quốc đă không nỗ lực
đủ.
Theo một
văn kiện đă giải mật của Đảng
cộng sản Trung Quốc với thống kê chưa
đầy đủ, từ tháng 10 năm 1921 đến
tháng 6 năm 1922, Đảng cộng sản Trung Quốc
đă nhận 16.655 đồng yuan. Năm 1924 nhận 1.500
đô-la Mỹ và 31.927,71 đồng yuan; năm 1927 nhận
187.674 đồng yuan; mỗi tháng Cộng sản Quốc
tế chu cấp khoảng 20 ngàn đồng yuan. Những
mánh khoé mà Đảng Cộng Sản Trung Quốc
thường dùng ngày nay —móc nối, đi cổng sau, mua
chuộc, đút lót, thậm chí uy hiếp,… — đều
đă được dùng từ thời bấy giờ.
Đảng Cộng sản Quốc tế từng phê b́nh
nghiêm khắc các mánh khóe chạy chọt mà Đảng
Cộng Sản Trung Quốc hay dùng để xin tiền.
“Họ thường lợi
dụng các nguồn chi phí khác nhau (ban liên lạc Quốc
tế, các đại biểu của Cộng sản
quốc tế, các tổ chức quân sự,…) để xin
cùng một ngân khoản, bởi v́ nguồn chi phí này có
thể không biết rơ nguồn chi phí kia đă chi khoản
đó hay chưa… Điều tức cười là các
đồng chí Trung Quốc không những đă biết
được tâm lư của các đồng chí Liên Xô chúng ta,
mà quan trọng hơn là họ c̣n biết cách đối
xử khác biệt với từng đồng chí có trách
nhiệm phê chuẩn cho từng ngân khoản. Một khi các
đồng chí Trung Quốc hiểu rằng, ngân khoản
sẽ không được chính thức thông qua, họ
liền bắt đầu tŕ hoăn các buổi họp. Sau
đó thậm chí có những thủ đoạn xảo trá
như phao tin đồn kiểu như "nhân viên công tác
địa phương có mâu thuẫn với Liên Xô, nên
số tiền đó đă không cấp cho Đảng
Cộng Sản Trung Quốc, mà cấp cho quân phiệt”.[22]
Đảng
Cộng Sản Trung Quốc vẫn luôn bảo người
dân rằng Tưởng Giới Thạch đă phản
bội Cách mạng Quốc Dân [24] khiến Đảng
cộng sản đi vào cái thế bắt buộc phải
khởi nghĩa vơ trang.
Trên thực
tế, Đảng Cộng Sản trong sự hợp tác
Quốc-Cộng lần thứ nhất, là giống như
một phụ thể bám chặt, ăn bám vào Cách mạng
Quốc Dân để phát triển chính ḿnh. Hơn nữa nó
c̣n hăng hái phát động cuộc cách mạng do Liên Xô
hậu thuẫn để chiếm đoạt quyền
lực, nhưng cái tham vọng nắm quyền của nó,
thực ra đă phá hoại và phản bội Cách Mạng
Quốc Dân.
Tháng 7 năm 1922
trong Đại hội Đại biểu lần thứ
nh́ của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, bởi
v́ các đảng viên nôn nóng muốn giành chính quyền ngay,
cho nên những người phản đối liên minh
với Quốc Dân Đảng chiếm
đại đa số trong Đại hội. Tuy nhiên khi
nghị quyết được đưa lên quốc
hội th́ ‘thái thượng hoàng’ Cộng sản Quốc
tế đă gạt bỏ quyết nghị và chỉ
thị Đảng cộng sản phải gia nhập
Quốc Dân Đảng.
Trong giai
đoạn Quốc-Cộng hợp tác lần thứ
nhất, tháng 1 năm 1925, Đảng cộng sản Trung
Quốc cử hành Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ tư tại Thượng
Hải. Bấy giờ toàn thể Đảng cộng
sản Trung Quốc mới có 994 đảng viên, nhưng
Đảng Cộng Sản đă đề xuất vấn
đề lănh đạo chính quyền Trung Quốc trước
khi Tôn Dật Tiên [25] tạ thế vào ngày 12 tháng 3 năm
1925. Nếu Tôn Dật Tiên chưa tạ thế, th́ chính ông
ta, chứ không phải là Tưởng Giới Thạch,
mới là nhân vật bị nhắm vào trong việc
chiếm đoạt quyền hành của Đảng
cộng sản Trung Quốc.
Được
Liên Xô nâng đỡ, Đảng Cộng Sản Trung Quốc(ĐCSTQ)
cứ mặc ư nắm quyền, và đă chiếm các vị
trí lớn tại Quốc Dân Đảng trong thời gian
Quốc-Cộng hợp tác: Đàm B́nh Sơn (1886-1956, một
trong những lănh đạo ban đầu của ĐCSTQ
ở tỉnh Quảng Đông)
làm bộ trưởng Bộ Tổ chức Cán bộ
Trung ương Quốc Dân Đảng, Phùng Cúc Pha (1899-1954,
một trong những lănh đạo ban đầu của
ĐCSTQ) làm bí thư Bộ Công Nhân toàn quyền xử lư các
sự vụ, Lâm Tổ Hàm (1886-1960, một trong những
lănh đạo đầu tiên nhất của ĐCSTQ) làm
bộ trưởng Bộ Nông Dân cùng Bành Bái (1896-1929 một
trong những lănh đạo của ĐCSTQ) làm bí thư
Bộ Nông Dân, Mao Trạch Đông làm quyền bộ
trưởng Bộ Tuyên Truyền của Quốc Dân
Đảng. Trường quân sự và chỉ huy quân
đội luôn luôn là mục tiêu của Đảng cộng
sản: Chu Ân Lai làm chủ nhiệm khoa Chính trị của
trường quân sự Hoàng Phố, và Trương Thân
Phủ ( 1893-1986 một trong những người sáng
lập ĐCSTQ và là người giới thiệu Chu Ân Lai
gia nhập ĐCSTQ) làm phó chủ nhiệm. Chu Ân Lai cũng
kiêm nhiệm Trưởng Ban Quân pháp, và cài những cố
vấn quân sự của Liên Xô vào các nơi. Có nhiều
người của Đảng cộng sản
được đưa vào làm giáo viên chính trị và giáo
chức trong các trường quân sự của Quốc Dân
Đảng, và làm đại biểu các cấp bậc khác
nhau trong quân đội của Cách mạng Quốc Dân [26].
Chúng quy định rằng quân lệnh nào nếu không có
đại diện của Đảng Cộng sản kư th́
mệnh lệnh đó không công hiệu. Nhờ vào việc
phụ thể bám chặt và luồn lách vào Cách mạng
Quốc Dân này mà kết quả là số đảng viên
Đảng cộng sản Trung Quốc đă tăng nhanh,
từ dưới 1.000 người năm 1925 lên
đến 30.000 người năm 1928.
Cách mạng
Bắc phạt bắt đầu tháng 2 năm 1926. Nhưng
từ tháng 10 năm 1926 cho đến tháng 3 năm 1927,
Đảng cộng sản Trung Quốc đă tổ
chức ba cuộc bạo động vơ trang tại
Thượng Hải, sau đó tấn công vào trung
ương quân Bắc phiệt, nhưng đă bị quân
Bắc phiệt đánh bại, giải trừ vơ trang. Các
cuộc đ́nh công tại Quảng Đông đă gây
đụng độ vơ trang với cảnh sát hàng ngày.
Những tranh đấu đó đă dẫn đến
quyết định đại thanh trừ Đảng
Cộng Sản 'ngày 12 tháng 4' năm 1927 của Quốc Dân
Đảng [27].
Tháng 8 năm 1927,
các đảng viên Cộng sản trong Quân đội Cách
mạng Quốc Dân đă phát động bạo lực
tại Nam Xương, nhưng bị đàn áp ngay lập
tức. Đến tháng 9, Đảng cộng sản
lại phát động cuộc khởi nghĩa Mùa
thu hoạch tại Trường Sa, và cũng bị
đàn áp luôn. Bấy giờ Đảng cộng sản
Trung Quốc bắt đầu thực hành hệ thống
khống chế trong quân đội theo kiểu “chi bộ
Đảng là phải thành lập từ cấp đại
đội trong quân đội”, và rút chạy về
địa khu núi Cương
Sơn tỉnh Giang Tây [28] và thiết lập chính quyền
cục bộ nông thôn ở đó.
Trong cuộc
Bắc phạt, lúc quân Cách mạng Quốc Dân đang lâm
chiến với quân phiệt, th́ Đảng cộng
sản xúi giục tạo phản ở nông thôn để
cướp đoạt quyền lực.
Cuộc vận
động nổi dậy của nông dân tại Hồ Nam
năm 1927, là bạo loạn của bọn lưu manh,
cặn bă của xă hội, cũng giống như cuộc
nổi dậy tiếng tăm của Công Xă Pa-ri năm 1871
(khởi nghĩa Cộng Sản đầu tiên). Nhân dân Pháp
và người ngoại quốc tại Pa-ri đă chứng
kiến Công xă Pa-ri chính là bạo loạn của một
đám quân vô lại, mang tính phá hoại và không có lư
tưởng ǵ. Chúng ở những lâu đài xa hoa, tiêu xài
hoang phí, chơi bời khoái lạc, hưởng thụ
nhất thời, chứ không lo nghĩ đến
tương lai. Trong thời
kỳ bạo loạn của Công xă Pa-ri, chúng cấm báo chí.
Chúng bắt Georges Darboy (người thuyết giáo cho nhà vua)
làm con tin và sau đó bắn chết ông ta. Chúng tiêu khiển
bằng cách giết hại tàn độc 64 giáo sĩ,
đốt cung điện, đập phá dinh thự
của quan chức, nhà cửa của dân chúng, cũng
như tượng đài và cột khắc. Trước
đó Pháp là quốc gia giàu có nhất nh́ ở Âu Châu, nguy nga
cũng vào bậc nhất. Tuy nhiên trong cuộc nổi
dậy của Công xă Pa-ri, điện đài bị
đốt thành tro, dân chúng bị tàn sát thành xương khô.
Tai họa thảm khốc tàn ác như thế, lịch
sử xưa nay thật hiếm có.
Mao Trạch
Đông thừa nhận: “Nông dân đúng là có phần ‘làm
loạn’ làng thôn. Nông hội có quyền lực cực cao,
khộng cho phép địa chủ mở miệng, mà c̣n
tước đoạt quyền tự do đó.
Điều này cũng bằng như đă đánh
địa chủ gục xuống đất, rồi c̣n
dẫm đạp lên nữa. Nông dân đe doạ: ‘ bọn
tao sẽ cho mày vào danh sách bọn phản động!’
Người giàu bị phạt tiền, bị bắt
đóng góp, ghế kiệu cũng bị đập bể
nát. Gia đ́nh nào có người phản đối Nông
hội, th́ đội nông dân xông thẳng vào nhà họ
giết heo lấy thóc lúa, c̣n dẫm đạp, nhổ
nước bọt lên giường khảm ngà của
tiểu thư con nhà giàu. Ai mà hé miệng một chút
liền bị chụp mũ giấy cao trên đầu
rồi trói lôi đi khắp làng, và mắng chửi họ
rằng: ‘Thằng địa chủ bần tiện kia! Hôm
nay mày đă biết chúng ta là ai chưa!’ Chúng muốn sao làm
vậy, đảo lộn tất cả mọi thứ b́nh
thường, và chúng đă tạo nên một loại
hiện tượng khủng bố như thế ở
thôn quê.” (Mao 1927)
Và Mao c̣n tán
dương: “Nói trắng ra. Nông thôn chỗ nào cũng
cần phải trải qua một thời kỳ khủng
bố như vậy. Nếu không th́ không cách nào dẹp yên
bọn phản cách mạng ở nông thôn, lại càng không
thể lật đổ quyền lực của bọn nhà
giàu. Phải đẩy con người ta đến cùng
cực th́ uốn nắn cái sai tất phải đúng,
nếu không th́ sai không bao giờ thành đúng
được… Trong thời cách mạng, tưởng
như đó là những hành xử ‘thái quá’, nhưng thực
ra đó là những ǵ mà cách mạng cần.” (Mao 1927)
Cách mạng
của Cộng Sản đă dựng lập một hệ
thống khủng bố.
Đảng
Cộng Sản Trung Quốc vẫn tuyên truyền rằng
cuộc trường chinh
của ḿnh là cuộc chiến chống Nhật. Nó thổi
phồng cho đó là thần thoại cách mạng của
Trung Quốc, là ‘bản Tuyên
ngôn’, là ‘đội tuyên truyền’, là ‘ guồng máy gieo
mầm', là bước ngoặc đưa Đảng
Cộng Sản đến thắng lợi và đưa
kẻ thù đến thất bại.
Đó là tuyên
truyền bậy bạ quá trắng trợn. Cuộc
‘bắc tiến kháng Nhật’ là che đậy cho sự
thất bại thảm hại của Đảng Cộng
Sản. Từ tháng 10 năm 1933 đến tháng 1 năm
1934, Đảng Cộng Sản liên tiếp chịu thua
trận hoàn toàn. Trong cuộc tấn công lần thứ
năm của Quốc Dân Đảng nhằm bao vây và tiêu
diệt Đảng Cộng Sản, th́ Đảng Cộng
Sản đă lần lượt mất các căn cứ
nông thôn cái này tới cái khác. Hồng Quân của Đảng
Cộng Sản buộc phải trốn chạy. Đó chính
là gốc thực sự của cuộc trường chinh.
Cuộc trường chinh thực ra là
nhắm vào việc phá vỡ ṿng vây, chạy sang vùng
Ngoại Mông Cổ để cùng với quân Liên Xô làm thành
một ṿng cung từ Tây sang Đông. Như vậy với
phía tây giáp Ngoại Mông Cổ, nếu không thủ
được sẽ rút lui về Liên Xô ở phía bắc.
Đảng Cộng Sản Trung Quốc đă gặp
rất nhiều khó khăn trong cuộc hành quân đến
địa khu Ngoại Mông Cổ. Họ chọn con
đường đi qua Sơn Tây và Tuy Viễn, một
mặt có thể che đậy nói rằng họ lên vùng phía
bắc kháng Nhật để lấy ḷng người dân,
một mặt vừa an toàn v́ ở đó không có quân
Nhật. Bấy giờ quân Nhật chiếm giải
Vạn Lư Trường Thành lập thành chiến tuyến.
Sau một năm, khi quân trường chinh của
Đảng Cộng Sản Trung Quốc thoát đến
Thiểm Bắc th́ Hồng Quân chủ lực giảm
từ 800 ngàn xuống c̣n khoảng 6 ngàn.
Tháng 12 năm 1936,
Trương Học Lương và Dương Hổ Thành
(hai tướng của Quốc Dân Đảng) bắt cóc
Tưởng Giới Thạch ở Tây An. Sự kiện này
sau được gọi là biến
cố Tây An .
Theo sách giáo khoa mà
Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) viết
cho dân chúng, th́ biến cố Tây An là do hai tướng
Trương, Dương muốn ‘can gián bằng quân
lực’nên mang tối hậu thư sống hay chết cho
Tưởng Giới Thạch, bắt ép Tưởng
Giới Thạch phải chọn con đường
chống bọn Nhật xâm lăng, đồng thời
mời đại biểu của Đảng Cộng
Sản là Chu Ân Lai sang thương lượng một
giải pháp ḥa b́nh. Dưới sự trung gian của các
nhóm khác nhau trong toàn quốc, biến cố này đă
giải quyết hoà b́nh, và nhờ vậy kết thúc 10
năm nội chiến, Đảng Cộng Sản và
Quốc Dân Đảng lại hợp tác thành một liên
minh quốc gia chống Nhật. Sách lịch sử của
Đảng Cộng Sản Trung Quốc viết rằng
biến cố này là then chốt chuyển Trung Quốc ra
khỏi sự nguy cơ. Đảng cộng sản đă
tự tô vẽ ḿnh như một đảng phái yêu
nước, và chúng thực thi v́ lợi ích quốc gia
Thực ra càng
ngày càng có nhiều tài liệu vạch trần sự
kiện này. Trước ngày biến cố Tây An, ĐCSTQ
đă tụ tập rất nhiều gián điệp quanh
Dương Hổ Thành và Trương Học Lương.
Ví dụ: Lưu Đỉnh một đảng viên nằm
vùng của Đảng Cộng Sản do Tống Khánh Linh,
(vợ của Tôn Dật Tiên, chị của bà Tưởng
và là một đảng viên của Đảng Cộng
Sản) giới thiệu trở thành người thân tín
của Trương Học Lương, và đă có công trong
biến cố Tây An. Sau này khi luận công trạng, Mao
Trạch Đông biểu dương: “Biến cố Tây An,
Lưu Đỉnh có công lớn”. Phu nhân Tạ Bảo Chân,
vợ của Dương Hổ Thành, là đảng viên
Đảng Cộng Sản, và làm việc trong Ban chính
trị quân đội của Dương Hổ Thành. Cô ta
đă được Đảng Cộng Sản phê
chuẩn kết hôn với Dương Hổ Thành vào tháng 1
năm 1928. Đảng viên Vương B́nh Nam, sau này trở
thành Thứ trưởng bộ Ngoại giao ĐCSTQ,
bấy giờ là thượng khách gia đ́nh họ
Dương. Chính những người cộng sản thân
tín này ở chung quanh hai tướng Trương,
Dương đă trực tiếp xúi dục họ làm
phản trong cuộc binh biến này.
Trước khi
xảy ra biến cố, ban lănh đạo Đảng
Cộng Sản Trung Quốc đều muốn ám sát
Tưởng Giới Thạch để trả thù. Lúc
ấy quân Đảng Cộng Sản đóng tại
Thiểm Bắc quá ít ỏi, lâm vào cảnh khốn cùng, có
thể bị tiêu diệt chỉ trong một trận. Do
đó ĐCSTQ dở mánh khoé lừa dối gian manh xúi
dục hai tướng Trương, Dương làm
phản. Nhưng Liên Xô lại muốn cầm chân quân
Nhật, không muốn quân Nhật dễ bề tấn công
Liên Xô từ phía nam, nên Stalin đă tự viết thư cho
trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, là
không được giết Tưởng Giới Thạch,
mà phải quay lại hợp tác với Quốc Dân
Đảng lần thứ hai. Mao Trạch Đông và Chu Ân
Lai cũng nhận định rằng, với quân lực
Đảng Cộng Sản Trung Quốc quá yếu, họ
không thể nào thắng được Quốc Dân
Đảng, cho dù có ám sát Tưởng Giới Thạch
được, th́ khi quân Quốc Dân Đảng
đến báo thù, Đảng Cộng Sản Trung Quốc
sẽ bị tiêu diệt mất. Do vậy, Đảng
Cộng Sản thay đổi kế hoạch, lấy
hợp tác đánh Nhật làm danh nghĩa, bắt ép
Tưởng Giới Thạch đồng ư hợp tác
Quốc-Cộng lần thứ hai.
Đảng
Cộng Sản Trung Quốc ban đầu sách động
binh biến nhằm ám toán Tưởng Giới Thạch,
nhưng sau lại xoay lại, đóng vai người hùng
trên sân khấu, bắt Tưởng Giới Thạch
phải chấp nhận Đảng Cộng Sản lần
thứ hai. Đảng Cộng Sản không những thoát
được nguy cơ diệt vong, mà c̣n được
thêm một cơ hội ăn bám lần thứ hai vào chính
phủ Quốc Dân Đảng. Không lâu sau đó, Hồng
Quân trở thành đoàn Bộ Binh số 8, lại có cơ
hội phát triển lớn mạnh hơn xưa. Sự gian giảo, dối trá
của Đảng cộng sản Trung Quốc, thật là
xứng danh cao thủ.
Trong sách giáo khoa
của Đảng Cộng Sản Trung Cộng viết là,
Đảng cộng sản lănh đạo chiến tranh
kháng Nhật đến thắng lợi.
Thực ra khi
chiến tranh đánh Nhật bùng nổ, Quốc Dân
Đảng có hơn 1.7 triệu quân vơ trang, chiến
hạm có sức bài nước 110 ngàn tấn, và khoảng
600 phi cơ chiến đấu các loại. Trong khi đó
tổng số quân của Đảng Cộng Sản,
kể cả Bộ Binh Tân Tứ thành lập vào tháng 11
năm 1937, không quá 70 ngàn người, đă thế c̣n
bị chia năm xẻ bảy v́ tranh quyền chính trị
trong nội bộ. Nó yếu đến nỗi chỉ
cần một trận chiến là có thể bị tiêu
diệt hoàn toàn. ĐCSTQ biết rơ nếu thật sự
xuất quân đánh Nhật, th́ sẽ nắm chắc
phần thua và mất binh quyền. Trong mắt của
Đảng Cộng Sản Trung Quốc, vấn đề
“thống nhất chiến tuyến” với Quốc Dân
Đảng, là để chiếm đoạt quyền lănh
đạo, chứ không phải v́ sự tồn vong của
dân tộc Trung Hoa, do đó phương châm cho kế
hoạch của Đảng Cộng Sản là: “trong quá tŕnh
hợp tác, nhất định phải đấu tranh
để tranh thủ các vị trí lănh đạo, nhưng
chỉ nói điều này trong nội bộ Đảng”.
Sau biến
cố 18 tháng 9 năm 1931, quân Nhật chiếm đóng thành
phố Thẩm Dương, từ đó làm chủ một
vùng rộng lớn ở đông bắc Trung Quốc.
Đảng Cộng Sản Trung Quốc đă chiến
đấu sát vai với quân xâm lược Nhật Bản
để đánh bại quân Quốc Dân Đảng. Trong
'tuyên ngôn biến cố Măn Châu', viết để đáp
ứng sự xâm lăng của quân Nhật, Đảng
Cộng Sản Trung Quốc kêu gọi nhân dân toàn quốc
lật đổ chính phủ Dân Quốc: “Ở khu vực
Quốc Dân Đảng thống trị, th́ công nhân phải
băi công, nông dân bạo động, học sinh băi khoá, dân
nghèo bỏ việc, quân sỹ tạo phản”.
Đảng
Cộng Sản Trung Quốc tay vẫy cao lá cờ kháng
Nhật, nhưng bên trong đang gom góp quân địa
phương cùng du kích và di chuyển đại đa
số quân binh khỏi chiến tuyến, chỉ để
lại rất ít quân đánh Nhật. Ngoại trừ vài
trận, trong đó có trận B́nh H́nh Quan, Đảng
Cộng Sản không đóng góp ǵ trong cuộc chiến
chống Nhật. Thay vào đó, nó tập trung năng
lực vào việc mở rộng địa bàn hoạt
động. Khi quân Nhật đầu hàng, Đảng
Cộng Sản thâu nạp hàng binh vào lực lượng
của nó, rồi thổi phồng mà tuyên bố rằng
quân đội Cộng Sản có hơn 900 ngàn quân chính quy
cộng với 2 triệu dân quân. Thực tế chỉ có
quân Quốc Dân Đảng đă ra chiến trường
đánh Nhật, bị chết hơn 200 viên tướng trong trận
chiến này, trong khi đó, Đảng Cộng Sản
hầu như không mất một viên tướng nào. Tuy
nhiên, Đảng Cộng Sản Trung Quốc vẫn luôn
luôn tuyên truyền với dân
chúng rằng Quốc Dân Đảng không đánh Nhật, mà
là Đảng cộng sản Trung Quốc đă dẫn
dắt nhân dân đến thắng lợi lớn lao.
Chiêu bài ‘kháng
Nhật’ của Đảng Cộng Sản Trung Quốc
đă thu hút được vô số thanh niên yêu nước
đến Diên An, nhưng cũng chính tại ‘cái nôi cách
mạng’ này, Đảng cộng sản Trung Quốc đă
thi triển cuộc ‘chỉnh phong’ (chỉnh đốn
nội bộ), đàn áp hàng ngàn hàng vạn thanh niên cách
mạng. Sau khi chiếm được chính quyền toàn
quốc, ĐCSTQ vẫn miêu tả Diên An là “thánh
địa” cách mạng, nhưng họ dấu nhẹm
tội ác về cuộc chỉnh phong này.
Cuộc vận
động ‘chỉnh phong’ Diên An là tṛ biểu diễn
quyền lực khủng bố nhất, hắc ám nhất,
tàn bạo nhất trong lịch sử con người. Lấy
danh nghĩa dọn sạch những độc hại
của giai cấp tiểu tư sản, ĐCSTQ đă
loại trừ hết tất cả những giá trị
của con người như văn minh, độc lập,
tự do, dung nhẫn, tôn nghiêm. Bước một của
cuộc chỉnh phong là lập hồ sơ nhân sự cho
từng đồng chí, gồm có (1) lư lịch tự
thuật, (2) niên phổ văn hoá chính trị mà ghi chép toàn
bộ quá tŕnh chính trị và đào tạo, (3) quan hệ gia
đ́nh và quan hệ xă hội, (4) tự thuật của cá
nhân về quá tŕnh biến đổi tư tưởng, (5)
kiểm thảo Đảng tính.
Như vậy mỗi hồ sơ nhân sự có đủ các thứ như: những ai mà cá nhân đó đă từng có tiếp xúc trong đời, những việc xảy đến trong đời kèm theo thời gian, địa điểm. Đương sự được yêu cầu khai đi khai lại nhiều lần, nếu Đảng thấy có chỗ không thống nhất lập t̗